Tin Tức Phật Giáo Thế Giới

The Buddhist Analysis of Space
Phân tách về khái niệm Không gian trong đạo Phật


bài của  Dr. Bhikkhu Bodhipala Madurai, báo Lanka Daily News, 19-09, 2007

Tamil Nadu, India – Trong nhiều bài pháp Đức Phật Thích Ca đã từng phân tách thể tánh chân thật của "không gian". Theo Đức Phật, thì không gian không phải là vật chất, vì không tư hữu một đặc tánh nào thuộc hóa chất hay vật lý tự nhiên hết.
Như  vậy thì không gian được xem hay hiểu là có sự giúp đở của 2 nguyên tố vật chất để làm cương giới cho nó. Chúng có thể là 2 nguyên tố nguyên tử (tnhỏ nhất) hoặc 2 nguyên tố thiên hà (to nhất). Trong ngữ tự Ba lị (Pali), nhìn thấy phẩm chất hay lượng số của "không gian" được gọi là “pannati” (thấy bằng trí tuệ)
Nhưng khoa học tân thời đã chia không gian thành 2 phạm trù, thứ nhất là không gian ê  te (ether space, thinh không) vốn hoàn toàn là một hiện tượng vật chất. Không gian theo siêu hình học thì có 2 chiều. Chiều thứ nhất được gọi là  vật chất a cát (material akash, do nơi từ àkàsa, ) và chiều kế tiếp gọi là không gian hữu tình (sentient space).

Đức Phật có phương cách riêng của Ngài khi giải thích về phẩm chất của không gian. Kinh nghiệm về "không gian" không gì hơn là thâm nhập vào trong ý thức vô cùng tận. Kinh nghiệm ý thức vô cùng tận không gì hơn là tụ tập "thiền định" (jhanas) để cuối cùng  đưa hành giả đạt đến Niết bàn. Thông thường Tây phương cho là các 4 giai tầng của “jhanas” không được các học giả Nam tông chú thích hay thuyên giải rõ ràng. Bốn tầng lớp Jhanas này cần phải tự thân kinh nghiệm bằng thực tập cần mẫn và thành thực, trong khi phần lớn chúng ta chỉ biết tìm hiểu bằng đọc các đặc tánh của chúng qua sách vở mà không có nhiều cố gắng cá nhânnào hết.


Cho nên đây quả thật là một công việc khó khăn bởi vì, chỉ địng hay định nghĩa một chất thể thuộc vật chất theo phương diện từ nguyên học thì ta phải dùng đến ngôn từ. Mặt khác, có những ngôn từ chỉ có thể tự kinh nghiệm mà thôi, dụ như không gian (space), tâm thức (mind) và niết bàn (nibbana).


Helium hay Hydrogen, v.v. những yếu tố như thế có thể định nghĩa được bằng ngôn từ và có thể nhận thức được, không chỉ trong hình thức văn chương mà ngay chính trong phòng thí nghiệm. Thế nhưng khoa học từ nguyên thì quá mong manh để đục xuyên qua tư tưởng trong suốt của một vài ngôn từ như là "không gian" và "jhanas”. Ta cũng có thể mạnh dạn nói rằng "khái niệm" về không gian vẫn chưa có thể sờ nắm như là một đối thể có thể cầm giữ được bởi vì không gian là một nguyên tố không thể nhìn thấy cũng như không thể cảm nhận bằng các giác quan, ngoại trừ bằng tâm thức như là Niết bàn.


Nói tóm, không gian không phải là một vật cụ thể có thể nhìn thấy được bằng các giác quan (căn). Đó là lý do mà Phật giáo không chấp nhận không gian như là một trong các yếu tố căn bản (tứ đại). Phật giáo phân tách về không gian rõ ràng hơn là khoa học tân vật lý. Kinh Dhammasangani (Phật thuyết Pháp tập kinh)có nhiều định nghĩa về không gian. Theo kinh Dhammasangani, nơi nào mà không có chướng ngại gì thì đó gọi là "không gian".


Trong Ấn độ giáo, không gian được chia làm 2 phạm trù; thứ nhất gọi là "không gian ê te" (etheric space, thinh không) và thứ hai gọi là "không gian a cát “ (akasic space, hư không). Rồi lại còn chia chẻ thêm là không gian ê te là loại thực thể vô tình (insentient entity)  và không gian a cát là loại thực thể hữu tình (sentient entity).


Đức Phật giải thích "không gian chất thể" với đầy đủ chi tiết trong kinh Trường A Hàm (MAJ: 28.26) “khi mà một không gian bị đóng khung bởi cây gổ và dây leo, cỏ và đất sét, thì nó được gọi là "cái nhà"; cũng vậy, khi không gian bị đóng khung bởi xương và gân, thịt và da thì nó được gọi là "hình thể vật chất"; ở đây Đức Phật nói về bản tánh vô ngã của thân thể. Ngài chỉ cho thấy là cái gọi là thân thể vật chất đó không là gì ngoài sự tụ tập giản đơn của 4 yếu tố mà rõ ràng là có biết bao nhiêu khoảng cách chen giữa, tức không gian, ngay từ trên đỉnh đầu cho đến ngón chân, bắt đầu từ cửa miệng cho đến cửa hậu môn.


 Đức Phật hỏi ngài La Hầu La thế nào là không gian? Tất cả những gì trong nội thể... trống rỗng và có vật chất ôm chặt lấynó, như có lỗ trong tai, lỗ mủi, cửa miệng, v.v.


A xà lê Tiên Na (Acharya Nagasena, trong kinh Na Tiên tỳ kheo kinh)  có một định nghĩa dài rất thích hợp với khoa học tân vật lý. Theo ngài, thì không gian không thể nắm giữ được (sabbaso) không có hạn cuộc (sarvagata) do đó mà vô cùng tận (ananto), v.v. Cho nên, nó không phải là vật chất cũng không phải là vô-vật chất (sankhata nor asankhata). Thế thì, bây giờ, câu hỏi thông thường được đặt ra là "Tìm hiểu không gian để làm gì?"


Đức Phật nói :"Này A Nan, ta luôn tự tại trong sự rỗng lặng. Ngài giải thích thêm cho A Nan: "Tỳ kheo cần phải an trụ tâm, đưa tâm đến "nhất tâm" và đồng thời đến vô biên, đó chính là tánh cách chánh của không gian." Không gian cần được nhận ra trong phạm vi khối lượng mà theo đó [ảo tưởng] về "tôi là", "ta", "của ta" thành hình; ngoài ra, nó không thuộc hình trụ hay vòng tròn. Thế nhưng, chúng ta thường hay nhận thức không gian theo hình trụ hay hình vòng tròn.


Theo lời dạy của Đức Phật, "Trạng thái "an trụ trong rỗng lặng" này cho ta một căn bản hoàn toàn tốt đẹp và đầy đủ vô cùng."
Chỉ khi nào nhận thức đúng đắn về căn bản vật chất, hành giả mới có thể hiểu về tâm thức vô biên thâm nhập vào trong "cái một" không ngằn mé và sự hiện hữu muôn đời với niềm vui cực lạc và đồng thời không còn "cái ta là" nữa. Khi có ý nghĩ rằng "ta là" hiện hữu thì không gian vô tận không thể kinh nghiệm được. Như thế "ta là" cần phải nhập thể vào trong không gian hoàn toàn có nghĩa là vào sự vô cùng tận vào cái một của trạng thái "nhất tâm", thì khi đó thức vô biên sẽ hiện khởi.  


Phật Minh (Buddhaghosa) nói trong Thanh Tịnh đạo luận (Visuddhi Magga) : ...”cái khoảng trống của không gian vô cùng mà hành giả trong tiến trình tu tập đạt đến và áp dụng tâm thức vào đối tượng là không gian, thì tâm của hành giả sẽ thâm nhập vào không gian vô tận đó cách an nhiên, không có gì khó khăn.”


Như đã giải thích, "không gian" là một nguyên tố vô vật chất, nhưng đồng thời để phát khởi “jhanas” không gian cần phải được nhận thức bằng tâm tưởng "cái tôi" hay  “ngã”  “của tôi ”. Đối với toàn thể chúng sanh, điểm trọng yếu của thế gian (không gian) này chính là cái "ngã". Khi bắt đầu thiền định, hành giả cần phải nhận thức về "tôi là" để đưa nó vào không gian vô cùng tận. Khi ý thức về không gian bắt đầu từ "cái tôi hiện hữu" thâm nhập thì chỉ có tâm thức vô biên mới kinh nghiệm được. Khi tâm thức vô biên được thể nghiệm thì ta mới có thể hiểu được "tánh không" "không là gì cả" là gì.


Khi tánh không được hiểu rõ thì cốt lõi của hiện hữu bị phá tan và cuối cùng "không nhận biết cũng không không nhận biết" đượcc kinh nghiệm và đưa đến "Đại Ngộ".  


 


.
Các Tin Tức Phật Giáo đã qua
 

Tin Tức Phật Giáo Trong Tháng 9- 07