Đây là tác phẩm đầu tiên bằng Anh ngữ với đầy đủ chi tiết những hình ảnh tuyệt tác của Chân Ngôn (Mật) tông cùng tất cả ý nghĩa uyên thâm của chúng. Ý nghĩa uyên thâm này khó có thể diễn đạt bằng ngôn từ; mà giáo lý của Mật tông thì rất thâm sâu, cho nên điều duy nhất có thể là thể hiện chúng qua hình tượng tranh ảnh.
Sách là một nghiên cứu có hệ thống về tiến trình phát triển của Thai Tạng giới mạn-đà-la (Garbhadhatu mandala) tại Trung hoa và Nhật bản. Sự phát triển này được tìm thấy trong 36 phẩm của Đại Nhật kinh (Mahàvairocana-sùtra), quyển kinh chánh gốc của Mật giáo, trong hai bản chú sớ căn bản, trong bốn loại mạn-đà-la, trong những bức vẽ vội của Thiện Vô Úy (Subhakarasimha, 637-735), tất cả được tập thành cao độ trong dị bản Genzu của Nhật. Bản Genzu này được xem như là tinh yếu nhất, thường được tôn kính như chính là Thai Tạng giới mạn-đà-la đặc biệt của Nhật.
Thiện Vô Úy cùng với Kim Cương Trí (Vajrabodhi, 663-723) và Bất Không Kim Cương (Amoghavajra, 705-774) được tôn xưng là 3 vị sáng tổ của Mật tông Trung hoa. Triết lý Mật tông quy tụ vào quan niệm về hai mạn-đà-la: Thai tạng giới mạn-đà-la, yếu tố tĩnh lặng, biểu trưng cho bản thể Phật tánh tiềm ẩn trong mỗi một chúng sanh; và Kim cương giới mạn-đà-la (Vajradhatu mandala), yếu tố động hoạt, biểu tượng cho trí tuệ viên mãn. Có nhiều loại mạn-đà-la, tựu trung có bốn : 1. Đại mạn-đà- la (maha-mandala); 2. Tam muội da mạn-đà-la (samaya-mandala); 3. Pháp mạn-đà-la (dharma-mandala); 4. Yết ma mạn-đà-la (kamma-mandala). Bốn mạn-đà-la này biểu trưng cho năng lực linh ứng của tam mật, thân- , khẩu- và ý mật, là đích điểm mà hành giả Mật tông cố gắng đạt đến.
Tác giả Mammitzsch bắt đầu bằng một diễn tả tổng quát thế nào là mạn-đà- la, định nghĩa từ mạn-đà-la, nội dung chi tiết của mạn-đà-la và nhận dạng các đức Phật và Bồ tát cùng những vị khác, phương cách cấu thành mạn-đà-la và những dị biệt của bốn loại mạn-đà-la chánh yếu.
Chương 2 tóm lược rất súc tích Đại Nhật kinh, trình bày đầy đủ 31 phẩm chánh và 5 phẩm phụ. Chương 3 khái quát về bốn bộ nghi quỹ do Thiện Vô Úy cùng với Pháp Quyền dịch sang Hoa ngữ. Bốn bộ nghi quỹ này được thông dụng trong các tự viện của các vị sáng tổ Mật giáo tại Trung hoa vào thế kỷ thứ VIII. Tất cả các loại mạn-đà-la, từ bảy dị bản của mạn-đà-la trong căn bản tantra, mạn-đà-la trong các nghi thức tế tụng, các bản do Thiện Vô Úy phác họa, v.v. đều được trình bày đầy đủ chi tiết trong chương 4. Chương 5 nghiên cứu chi tiết những hình tượng và biểu trưng của chư Phật, Bồ tát và những vị thần thánh khác trong dị bản Genzu. Cuối chương này có liệt kê các tài liệu quan trọng bằng Nhật ngữ nghiên cứu về dị bản Genzu này. Sách kết luận bằng một tượng trưng tổng quát về mạn-đà-la: là biểu thị của Đại Nhật Như lai (còn gọi là Tỳ-lô-xá-na hay Đại Tỳ-lô-xá-na, Maha-Vairocana-Tathagata; Nhật ngữ: Dainichi-Nyorai) do lòng từ bi vô lượng đã hạ sanh nơi cõi sắc giới để hóa độ chúng sanh và với tiến trình từ lúc được điểm đạo cho đến thực hành quán đảnh, hành giả sẽ siêu việt thế giới nhị nguyên này để đạt đến sự chứng ngộ tối thượng khi hợp nhất được Thai tạng giới cùng với Kim cương giới.
[Ulrich H.R. Mammitzsch dạy tại các đại học Hawaii, Western Washington, California/Berkeley (Mỹ) và đại học Minh Trị, Meiji University, Tokyo, Nhật bản]
|
|