Trong những thập niên qua, nhất là từ sau 1980', Phật giáo có thể được xem như là phát triển đến cực điểm tại Mỹ quốc cũng như hầu hết các nước Âu châu và Úc châu. Một số Phật tử Mỹ sau thời gian khổ công tu tập theo Thiền, cả vừa truyền thống Nam tông lẫn Bắc tông, đã tự xuất lập thiền đường riêng và tiếp nhận thiền sinh cho riêng họ, nghiễm nhiên trở thành thiền sư. Một số tự tạo uy tín cho mình bằng những tác phẩm có tính cách phổ biến, đánh trúng tâm lý quần chúng bấy giờ đang loanh quanh đi tìm giải quyết cho những phiền não tinh thần mà thế giới vật chất thừa thãi không đáp ứng được; những người chạy đua theo phong trào giải phóng phụ nữ cũng ồn ào lên tiếng đòi quyền bình đẳng trong môi trường Phật giáo; cùng với những sách vở phong phú và truyền thống về Mật tông Tây tạng và những nghiên cứu thâm sâu cấp đại học – Phật giáo và Phật học đã nghiễm nhiên đi vào xã hội và văn hóa Mỹ một cách đường hoàng và ngày càng vữngvàng phát triển. Riêng về mặt lý thuyết, các cuộc hội nghị (conference), hội thảo (workshop), hội nghị chuyên đề (symposium), họp mặt (meeting), v.v., do các đại học hay các nhóm Phật giáo có uy tín tổ chức liên tục hàng năm hầu như đã trở thành là một thị trường không thể bỏ qua để tạo danh tiếng, củng cố danh vị hoặc trưng bày những sáng kiến hay khám phá mới. Quyển Buddhism in America này là một trong những sản phẩm của thị trường đó.
Trang bìa của Buddhism in America có kèm theo phụ tựa: "Biên bản lưu của Hội nghị đầu tiên của Phật giáo Mỹ - Proceedings of the First Buddhism in America Conference"; tuy nhiên, nếu ta còn nhớ, vào tháng 4 năm 1977 (đại học) Syracuse University đã có tổ chức một hội nghị tương tợ đặt tên là "Sự nở hoa của Phật giáo Mỹ", thì phụ tựa rằng "đầu tiên" này đã cho thấy thiếu cẩn thận và tự trọng. Lại nữa, mặt trong của bìa sau còn có một quảng cáo của nhà xuất bản, huênh hoang rằng "đây sẽ là một tư liệu cổ điển trong bộ môn tu thư của Phật học" cũng trở nên sai lầm quá lố.
Bởi vì, Buddhism in America chỉ là tập thành những bài diễn thuyết của một hội nghị với tuyên bố là "bước ngoặc cho tương lai của thiền tập Tây phương", được tổ chức tại Boston vào 3 ngày 17-19 tháng giêng năm 1997, cả hai mươi năm sau kỳ hội nghị tại Syracuse. Trong thời gian dài này, cũng đã có bao nhiêu là cuộc hội nghị chuyên đề Phật giáo Mỹ; thế nên, kỳ này, ban tổ chức tuy đã cố gắng bao gồm quá nhiều việc nhắm đến rất nhiều thành phần và nhiều truyền thống Thiền, cũng để cuối cùng, chỉ là gây thêm nhiều rối rắm, không nói lên được gì đáng kể.
Trong phần dẫn nhập, Al Rapaport ghi rằng "đây không dự định là một cuộc bàn thảo có tánh cách học giả như các hội nghị khác, mà chính là hành trình kinh nghiệm xuyên qua nhiều khía cạnh của Phật giáo đã truyền bá từ Đông sang Tây bao nhiêu năm qua" (tr. xiii). Nói như vậy là ban tổ chức đã bỏ quên số lượng có thực chất của những nhà vừa học giả vừa là hành giả ngày càng gia tăng đáng kể, không xem họ là thành phần nồng cốt của Phật giáo Mỹ. Rapaport cho rằng hội nghị này chỉ nhắm đến các hành giả, và hành giả đây là những nhà hành thiền; đây lại là một sai lạc lớn nữa, bởi vì Phật giáo Mỹ không phải chỉ có thiền và hành giả, không có học giả và không có các truyền thống không-Thiền khác.
Sách được chia làm 5 phần chánh: (1) "Xưa và Nay: Phật giáo hiện đại truyền từ những thực hành của Á châu cổ kính"; (2) "Thiền tập: các trường phái, phương pháp, và đời sống tu viện; (3) "Con Đường: suy tư và thực hành từng ngày để sống và để chết"; (4) "Tỉnh thức và Từ bi: Phật giáo xã hội hóa tại Tây phương"; và (5) "Phật giáo tại Mỹ". Mỗi bài trong các phần này chỉ là một đoạn được trích dẫn trong trọn bài thuyết trình của người tham dự, vậy mà sách cũng lên đến gần 600 trang. Ai muốn biết trọn bài thì có thể mua các băng cassettes từ hảng Sounds True Recordings, mỗi băng tùy vắn dài được định giá từ $9 (chín) cho đến $54 (năm mươi bốn) đô Mỹ, cho thấy đây cũng là một khía cạnh thương mại có lợi lớn, và đúng xu hướng đương thời
Vì chỉ là trích dẫn, cho nên khó có thể phê bình bài nào hay hoặc dở, bởi vì chúng đã đánh mất đi cái giá trị thu hút mà khi trình bày thuyết trình viên đã diễn đạt trước số người dự thính sống động. Số thuyết trình viên này đã đại diện hầu như đầy đủ các trường phái thiền: Vipassana, Zen, Dzogchen, Shikantaza, Ch'an, v.v., tuy nhiên, mặc dù là nói lên được nhiều kinh nghiệm khá thú vị và lôi cuốn, cũng chẳng có bài nào có nội dung mới lạ hay sáng tạo; quanh quẩn cũng chỉ làø những lập đi lập lại những luận điệu thật là "thiền" mà thôi. Đáng kể nhất có lẽ là bài của Joan Halifax viết về "Đối diện với cái chết", rất thích đáng và cần thiết, khi mà phần lớn những người Mỹ khám phá ra Phật giáo ở những thập niên 1960' và 1970' nay lại khám phá lần nữa sự cấp bách khi đang đứng trước cuối con đường của cuộc sống.
Sánh với 5 phần chánh của sách này, thì Charles Prebish, một học giả thường quan tâm đến Phật giáo Mỹ, lại chủ trương 5 điểm chính yếu khác: sắc tộc, thực hành, dân chủ hóa, xã hội hóa và thích nghi (hay hợp lưu); cho thấy vấn đề Mỹ hóa Phật giáo cũng vẫn chỉ là một đề tài để bàn cãi sôi nỗi mà thôi. Trong khi đó, Robert Thurman là vị học giả-hành giả duy nhất tham dự hội nghị này. Ông cũng như một số đông khác, đề xướng Phật giáo Mỹ bằng cách là "Phật giáo phải vượt qua điều gọi là Phật giáo mới có thể thực hành công tác mà Phật giáo muốn thực hành ở nơi nào Phật giáo có mặt. OK, như thế có nghĩa là 'Phật giáo không Phật giáo'. Đó là đề tài của tôi. Rất là 'thiền', phải không các bạn?" (tr. 451). Thurman là một trong số rất ít những nhà học giả nghiên cứu nghiêm chỉnh về Phật giáo Tây tạng, cũng như đã xuất gia tu tập theo truyền thống này, nhưng trong hâm hở Mỹ hóa Phật giáo, ông đã từng bị giáo sư Jeffrey Hopkins, một học giả Phật giáo Tây tạng nghiêm túc khác, gán cho nhãn hiệu là "tên hề của Tây tạng Phật giáo."
Bài của Surya Das viết về "Những khuynh hướng nổi bật trong Phật pháp Tây phưong" cũng cùng đường lối với Thurman và Prebish, nhưng khác với họ bằng liệt dẫn đến mười điểm cho Phật giáo Mỹ mà ông chủ xướng rằng sẽ tạo nên diện mạo cho Phật giáo Mỹ trong thiên niên kỷ mới:
1. Phật pháp không giáo điều;
2. một tăng đoàn cho cư sĩ;
3. một truyền thống dựa trên kinh nghiệm về thiền;
4. nam nữ bình đẳng;
5. một truyền thống phổ cập toàn cầu, chiết trung và phi bộ phái;
6. một truyền thống giản đơn và căn bản;
7. một truyền thống phi thứ bậc, dân chủ và bình quyền;
8. một truyền thống dựa trên lý trí, và phê phán, có khuynh hướng giải quyết tâm lý;
9. một truyền thống dựa trên thực nghiệm, cách tân và thẩm cứu, không tin tưởng vỏ đoán;
10. một truyền thống có khuynh hướg xã hội hóa và nhập cuộc.
Bài của Surya Das kết thúc bằng câu thần chú Om Mani Padme Hum (Án ma ni bát mê hồng) và kết thúc luôn tập sách này.
Buddhism in America không phải là một tác phẩm có giá trị nghiên cứu nhắm đến các học giả, không giống như các sách khác về Phật giáo Mỹ, tập thành từ những hội nghị khác, như The Faces of Buddhism in America do Institute of Buddhist Studies tại Berkeley tổ chức năm 1994, hay như American Buddhism: Methods and Findings in Recent Scholarship do Harvard Buddhist Studies Forum tổ chức năm 1997; tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tài liệu này không đáng giá. Sách không dùng những danh từ Phật giáo nặng nề cổ hủ, và cũng chẳng có nhiều chú thích, nhưng đã nói lên được một cuộc đối thoại có ý nghĩa về tình trạng đa dạng của Phật giáo Mỹ ở cuối thiên niên kỷ 2 trước thềm thiên niên kỷ 3: nghiên cứu có, phổ cập có, lý thuyết có, thực hành có, chuyên đề có, quần chúng có, để cung ứng cho tất cả mọi tầng lớp người Mỹ ngày càng khám phá ra Phật giáo là giải quyết có thể nói là duy nhất cho những phiền não tâm linh của họ trong thế giới dư thừa vật chất này, nhưng cũng như ẩn dụ trong kinh Pháp Hoa, sau một cơn mưa, cây lớn hấp thụ nhiều nước, còn cỏ dại thì chỉ vài giọt, nhưng cũng đủ thấm nhuần thế nào là "nước" rồi. (Lược thuật theo Charles S. Prebish, Religious Studies Program, Pennsylvania State University <csp1@psu.edu>
|
|